Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

  • Khóa Lễ Chủ Nhật Hàng Tuần vào lúc 12pm.
  • Lễ Vía Đức Quan Âm:
            - Vào ngày Sunday, 21 Tháng 7 Năm 2024 Âm Lịch: Lúc: 11:50am - 1:30pm

    Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
    An Cư Kiết Hạ và Khóa Tu Học 10 ngày từ 7/17 tới 7/27 - Mãn Hạ: Vào ngày:   Saturday 27-07-2024 Âm Lịch:
    Bát Quan Trai: Vào ngày:   Saturday 03-08-2024 Âm Lịch: Lúc: 10:00am
    Sám Hối: Vào ngày:   Saturday 03-08-2024 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm

    An Cư Kiết Hạ và Khóa Tu Học 10 ngày

    An Cư Kiết Hạ



     BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
    (Phật Học Phổ Thông Khóa thứ I )

    ĐẠO PHẬT


    ÐẠO PHẬT

    A.  Mở Ðề: 

                Phật ra đời vì một nhân-duyên lớn “khai thị chúng-sanh ngộ-nhập Phật tri-kiến”. 

                Người đời thường nói một cách hời hợt cho qua chuyện: - “Ðạo nào cũng tốt”.  Lời nói ấy, hoặc vì xã-giao để cho vui lòng khách, hoặc vì chưa rõ bề trong các Ðạo khác nhau thế nào, nên mới nói ra như thế.  Thật ra về mục-đích thì đạo nào cũng có giá-trị của nó, chẳng qua chỉ hơn nhau về từng bực cao thấp mà thôi.  Nhưng mục-đích tốt, dù sao, cũng chưa đủ.  Ðiều quan-trọng làm sao thực-hiện được mục-đích ấy, và đem lợi-ích rộng-lớn cho đời.  Thử hỏi, nếu đạo nào cũng có giá-trị như nhau, thì sao trước đây trên 2500 năm, trong xứ Ấn-độ đã có 94 thứ đạo rồi, mà đức Phật Thích-Ca còn giáng-sinh làm chi nữa? 

                Chẳng qua các Ðạo tuy nhiều, mà chưa được toàn “chơn, thiện, mỹ”, nên đức Phật mới ứng thân thị-hiện, dạy vẽ chúng-sanh “đạo Vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác”, ngõ hầu giải-thoát khỏi khổ sanh-tử luân-hồi, được tự-tại vô-ngại như Phật.  Kinh Pháp-hoa chép : “Vì một nhân-duyên lớn, Phật mới xuất-hiện ra đời”. 

                Nhân duyên lớn ấy là gì? – Chính là: “Khai thị chúng-sanh ngộ nhập Phật tri-kiến”, để cho chúng sanh được nhờ đó mà đổi mê ra ngộ, thấy tánh tỏ tâm, vượt sống khỏi chết, lìa khổ được vui”. 

    B.  Chánh Ðề: 

    I - ÐỊNH NGHĨA 

    1. - Chữ Ðạo nghĩa là gì?  - Chữ Ðạo có ba nghĩa: Ðạo là con đường; Ðạo là bổn-phận; Ðạo là lý-tánh tuyệt đối, là bản thể. 

                a) Ðạo là con đường, như người ta thường dùng trong những chữ: nhân-đạo, thiên-đạo, địa-ngục-đạo, ngạ-quỉ-đạo, súc-sinh-đạo.  Phàm là con đường thì có tốt, xấu, có thiện, ác v.v… Theo đạo Phật, hễ còn trong vòng đối đãi, thì không thể gọi là hoàn-toàn rốt-ráo. 

                b) Ðạo là bổn-phận, như người ta thường dùng trong những chữ: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo thầy trò, đạo vợ chồng v.v… Phàm là bổn-phận thì thường chịu ảnh-hưởng của phong-tục hay tập-quán.  Phong-tục và tập quán của nước này không giống nước kia.  Vì vậy, chữ Ðạo là bổn-phận cũng chưa đúng với nghĩa chữ Ðạo mà nhà Phật muốn nói. 

                c) Ðạo là lý-tánh tuyệt-đối, là bản-thể, nó lìa nói-năng, không thể nghĩ bàn.  Ðức Lão-tử nói: “Ðạo mà nói ra được, không phải là đạo”.  Xưa, có người hỏi một vị Tổ-sư: “Ðạo là gì?” Tổ-sư đáp: “Trước Phật Oai-âm-vương, không có tên Phật và chúng-sanh, lúc đó chính là Ðạo”. 

                2. - Chữ Phật nghĩa là gì? - Chữ Phật, nói cho đúng tiếng Phạn là Bouddha “Phật đà”.  Người Trung-hoa dịch là Giác-giả, (bực đã giác-ngộ, sáng suốt hoàn-toàn).  Giác có ba bực:           

    a)      Tự-giác : Nghĩa là tự mình đã giác-ngộ, khác với phàm-phu là những người còn mê-muội, bị luân-hồi trong cõi trần-lao, khổ-hải 

    b)      Giác-tha : Nghĩa là mình đã giác-ngộ, lại đem phương pháp giác-ngộ ấy dạy những người khác tu hành cho được giác-ngộ như mình.  Người tu theo Tiểu-thừa không thể có được giác tha, vì chỉ lo giải-thoát cho mình.  Chỉ người tu theo Ðại-thừa mới có được giác tha, nghĩa là giác-ngộ cho hết thảy chúng-sanh đang chìm đắm. 

    c)      Giác-hạnh viên-mãn : Nghĩa là giác-ngộ hoàn-toàn đầy đủ cho mình và cho người.  Những bậc Bồ-tát, tuy đã giác-ngộ cho mình và cho người, nhưng công hạnh chưa viên-mãn, nên chưa gọi được “Giác-hạnh viên-mãn”.  Chỉ có Phật mới được gọi là Giác-hạnh viên-mãn. 

    Chữ Phật là một danh-từ chung để gọi những bậc đã tự-giác, giác-tha, và giác-hạnh viên-mãn, chứ không phải là một danh-tù riêng để gọi một ngưòi nào nhất định.  Ai tu hành được chứng quả như đã nói trên đều được gọi là Phật cả. 

    3. - Ðạo Phật nghĩa là gì? - Theo những định nghĩa về chữ Ðạo và chữ Phật đã nói trên, chúng ta có thể giải-thích chữ Ðạo Phật như sau: 

    - Ðạo Phật là con đường chơn chánh, hoàn-toàn sáng-suốt đưa đến bản-thể của sự vật, là lý tánh tuyệt đối, lìa tất cả hư vọng phân biệt, mà các đấng giác-ngộ hoàn-toàn đã phát minh ra. 

    - Ðạo Phật gồm tất cả tự-lợi và lợi-tha, tự-giác, giác-tha và có công hạnh độ mình, độ người được hoàn-toàn thành tựu, rốt ráo viên-mãn.

    II.  - ÐẠO PHẬT CÓ TỪ HỒI NÀO ? 

                Ðứng về phương-diện bản-thế mà xét thì Ðạo Phật có từ vô-thỉ (nghĩa là không có đầu mối, không có giới hạn ở trong thời-gian).  Vì Ðạo Phật là bản tánh sáng-suốt của chúng sanh, nên có chúng-sanh là có Ðạo Phật; mà chúng sanh có từ vô-thỉ thì Ðạo Phật cũng có từ vô thỉ. 

                Ðứng vê phương-diện lịch-sử và hạn cuộc trong thế-giới này mà nói, thì Ðạo Phật có trên 2500 năm, trước Thiên-chúa giáng-sinh 544 năm.  (tính theo năm Phật nhập diệt).

    III.  – AI KHAI-SÁNG RA ÐẠO PHẬT ?  

    Tín-đồ Ðạo Phật cần phải biết lịch-sử đức Giáo-chủ của mình. 

    Dưới đây, xin kể sơ-lược những điểm chính của đời đức Giáo-chủ, người đã khai sáng ra Ðạo-Phật, tức là đức Thích-Ca Mâu-ni. 

    Ðức Phật Thích-Ca Mâu-ni, nguyên là Thái-tử nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) xứ Trung Ấn-độ, Phụ-hoàng tên Tịnh-phạn-vương Ðầu-đà-na (Sudhodana); Mẫu-hoàng tên là Ma-da (Maya).  Họ Ngài là Kiều-đáp-ma, xưa dịch là Cù-đàm, tên Ngài là Tất-đạt-đa (Shidartha).  Chữ Thích-Ca (Sakya), Tàu dịch là Năng-nhơn : Năng là năng-lực, Nhơn là từ-bi.  Mâu-ni (Muni) nghĩa là Tịch-mặc : Tịch là yên lặng, không bị khổ vui làm động tâm; Mặc là lặng-lẽ, không bị phiền-não khuấy-rối, độ mình độ người và công-đức đầy đủ. 

    Lúc nhỏ Ngài có trí-huệ sáng suốt và tài năng phi-thường.  Lớn lên nhìn thấy nhân sinh thống khổ, thế cuộc vô-thường, nên Ngài cương quyết xuất-gia tu-hành, tìm đường giải thoát cho mình và cho người, ngõ hầu đưa tất cả chúng-sanh lên bờ giác-ngộ. 

    Sau sáu năm tu khổ hạnh trong núi Tuyết (Hymalaya), Ngài thấy tu khổ-hạnh ép xác như thế, không thể đạt được chân-lý, nên Ngài đi qua núi Koda, ngồi dưới gốc cây Bồ-đề (Tất-bát-la, dịch âm theo tiếng Ấn-độ) và thề rằng: “Nếu ta không thành đạo, thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”.  Với chí hùng-dũng cương quyết ấy, sau 49 ngày tư duy, Ngài thấu rõ chân-tướng của vũ-trụ nhân-sanh và đắc đạo Bồ-đề.  Sau khi thành đạo, Ngài chu du khắp xứ, thuyết-pháp độ sinh, độ chúng-sanh chuyển mê thành ngộ, lìa khổ được vui.  Suốt thời-gian 49 năm, như một vị lương y đại tài, xem bịnh cho thuốc, Ngài đã dắt dẫn chúng-sanh lên đường hạnh-phúc và vạch cho mọi người con đường giác-ngộ giải-thoát. 

    Ðến 80 tuổi, Ngài nhập Niết-bàn ở thành Câu-thi-na, trong rừng Ta-la (song thọ).  Lúc bấy giờ, nhằm ngày rằm tháng hai âm-lịch.

    IV.  – GIÁO-LÝ CỦA ÐẠO PHẬT NHƯ THẾ NÀO ? 

    Giáo-lý của đạo Phật gồm trong ba tạng kinh điển là : Kinh, Luật, Luận

    1.      - Kinh : Kinh là những lời đức Phật Thích-Ca đã nói khi còn tại thế, để dạy chúng-sanh dứt trừ phiền-não và đạt đến quả Niết-bàn. 

    2.      - Luật : Luật là những giới-luật mà Phật đã chế ra cho các đệ-tử, răn chừa các điều dữ, tu tập các điều lành, trau giồi thân tâm cho thanh tịnh. 

    3.      - Luận : Luận là những sách, phần nhiều do các đệ-tử Phật làm ra để bàn giải rõ ràng nghĩa-lý mầu-nhiệm trong kinh, luật, hoặc quyết đoán tánh, tướng của các Pháp, phân-biệt những lẽ phải chẳng của chánh đạo và tà-đạo, khiến cho người đời khỏi nhận lầm phải trái, chánh tà. 

    Tam-tạng kinh điển lại chia làm hai thứ là đại-thừa và tiểu-thừa. 

    Thừa nghĩa là chở, có khi người ta cũng gọi là thặng, nghĩa là cỗ xe.  Thừa hay thặng đều có hàm ý-nghĩa là : Giáo-lý của Phật có công-năng như một chiếc xe, đưa chúng-sanh từ nơi cõi trần lao phiền-não đến cảnh giới an-vui thanh-tịnh, từ biển khổ luân-hồi đến Niết-bàn, giải-thoát. 

    Ðại-thừa như là cỗ xe lớn, có thể chở nhiều người trong một lúc; trái lại Tiểu-thừa như là một cỗ xe nhỏ chỉ chở mỗi lúc một vài người mà thôi. 

    Sở dĩ giáo-lý Ðạo Phật chia ra làm Ðại-thừa và Tiểu-thừa như thế, vì căn-cơ và nguyện-vọng chúng-sanh không đồng nhau.  Những hạng người nào nhận thấy mình chỉ đủ sức để giải-thoát cho riêng phần mình mà thôi, như chiếc xe nhỏ chỉ có thể chở được một vài người, thì theo giáo-lý Tiểu-thừa. 

    Những hạng người nào tự nhận thấy mình có thể vừa giải-thoát cho mình và cho người ra khỏi sanh-tử luân-hồi, tự-nguyện độ mình và người cùng đi đến Niết-bàn, như một cỗ xe lớn, cùng chở trong một lúc được nhiều người, thì theo Ðại-thừa.  Hạng người này rõ biết phiền-não, sanh-tử như huyễn-hóa, nên không chịu sớm an-vui ở quả vị cuối cùng của mình, mà thường độ sanh không bao giờ biết mỏi mệt; và vì nhận thấy chúng-sanh và mình đồng một bản-thể, cho nên khi chúng-sanh còn đau khổ, thì mình chưa có thể an-vui đưọc.

    V.    - SỰ TRUYỀN BÁ CỦA ÐẠO PHẬT. 

    Sau khi Phật Thích-Ca nhập-diệt, hai vị đại đệ-tử của Phật là ngài Ca-diếp và ngài A-nan thay Phật hoằng truyền Phật-pháp ở Ấn-độ.  Ðó là thời kỳ thứ nhất.  Thời kỳ thứ hai do các vị Tổ-sư Long-thọ, Mã-minh và Vô-trước lãnh đạo; thời kỳ thứ ba do các vị Tổ-sư Long-trì, Thiện-vô-úy và Liên-hoa-sanh đãm nhiệm. 

    Từ Ấn-độ, Phật-giáo lan truyền dần vào các nước lân-cận, rồi toàn cõi Á-đông, và cuối cùng toàn cả thế-giới.  Sự truyền-bá này đi theo hai hướng : một hướng về phương Bắc và một hướng về phương Nam

    Về phương Bắc, thì gọi là Bắc-phương hay Bắc-tôn Phật-giáo, hay Ðại-thừa Phật-giáo, gồm có những nước: Tây-tạng, Trung-hoa, Mông-cổ, Mãn-châu, Cao-ly, Nhật-bản và Việt-nam v.v… 

    Về phương Nam, thì gọi là Nam-phương hay Nam-tôn Phật-giáo, hay Tiểu-thừa Phật-giáo, hay Nguyên-thủy Phật-giáo gồm có những nước: Tích-lan, Miến-điện, Thái-lan, Ai-lao, Cao-miên, Nam-dương v.v… 

    Nhưng hiện nay thì nhờ sự giao-thông tiện lợi và kinh điển được trao đổi khắp các nước, nên sự chia chẻ giữa Bắc và Nam tôn không còn được rõ ràng như trước: trong Ðại-thừa vẫn có Tiểu-thừa và trong Tiểu-thừa vẫn có Ðại-thừa.

    VI.  - SỰ LỢI-ÍCH CỦA ÐẠO PHẬT 

    Mục-đích của Ðạo-Phật là đem lại những kết quả đẹp đẽ sau này cho chúng-sanh: 

    1.      Chơn-thường : Chúng-sanh trôi lăn, lặn hụp trong biển sanh-tử luân-hồi; chúng-sanh sống trong cảnh vô-thường, khi trẻ khi già, khi lành khi ốm, khi sống khi chết… Ðạo Phật đem lại cho người tu hành một quả vị là không bao giờ bị luật vô-thường chi phối. 

    2.      Chơn-lạc : Chúng-sanh đang sống trong cảnh giới tối tăm, buồn tủi, khổ đau; nếu có vui cũng chỉ vui được trong chốc lát, như người khát, uống nước mặn vào, đỡ khát trong chốc lát, rồi về sau lại càng khát hơn lúc đầu.  Ðạo Phật có mục-đích đem lại cho kẻ tu hành một sự an-vui toàn vẹn và bất tận. 

    3.      Chơn-ngã : Chúng-sanh bị không biết bao nhiêu nghịch cảnh ở chung quanh chi-phối, ràng buộc, như kể tù tội bị giam-hãm trong ngục-thất, không bao giờ được tự-do hoạt-động theo ý muốn của mình.  Ðạo-Phật có mục-đích làm cho những người tu-hành được giải-thoát hoàn-toàn ra ngoài những trói buộc nói trên, làm cho con người đầy đủ năng lực để thực-hiện ý-nguyện tốt đẹp của mình, và sống một cuộc đời an-nhiện tự-tại. 

    4.      Chơn tịnh : Chúng-sanh đang sống trong cảnh giới ô-trọc, lấm-láp trong bùn nhơ của cõi-tục, từ trong tâm-hồn cho đến ngoài thể chất.  Ðạo Phật có mục-đích làm cho người tu-hành gạn-lọc được bao nhiêu ô-trọc của cõi đời, được sống trong trắng, tinh-khiết, không vướng chút bận nhơ của trần-tục. 

    Không phải chỉ trong vị-lai, Ðạo Phật mới đem lại lợi-ích cho đời, ngay trong xã-hội hiện tại, Ðạo Phật cũng đem lại nhiều lợi-ích quý-báu:

    -          Ðạo Phật, nhờ tinh-thần Từ-bi, làm cho xã-hội, nhân loại thương yêu nhau hơn.

    -          Ðạo Phật, nhờ ánh sáng Trí-huệ, làm cho xã-hội, nhân-loại bớt si-mê lầm lạc, thấy được đâu là giá-trị thật, đâu là phỉnh-phờ giả-dối.

    -          Ðạo Phật, nhờ tinh-thần Bình-đẳng tuyệt-đối, san bằng được những bất công của xã-hội, nhân-loại, và làm cho cảnh-giới Ta-bà này được sáng-sủa, an-vui hơn. 

    Ðó là những lợi-ích mà Ðạo Phật đem lại cho cõi đời. 

    C.  Kết luận: 

    Tóm lại, những lợi-ích nói trên quý-báu như thế, nhưng sẽ không bao giời đến với chúng ta, nếu chúng ta không học và hành theo Phật. 

    1.      - Học Phật : Ðức Phật mặc dù là một đấng xuất-phàm, thông-minh xuất-thế, nhưng khi xuất-gia Ngài cũng phải học hỏi đêm ngày, hao hơi tốn sức biết bao nhiêu, mới phát-huy ra được cái giáo-lý nhiệm-mầu để lại cho chúng ta.  Vậy chúng ta muốn trở thành một Phật-tử chân-chính thì trước tiên là phải học hỏi như Phật.  Chúng ta không những chỉ học trong giáo-lý của Ngài, mà còn học qua đời sống, đức-hạnh, hành-vi của đời Ngài nữa. 

    2.      - Hành theo Phật : Nhưng học mà không tập, không hành, thì chẳng khác gì cái đãy đựng sách, chữ nghĩa kinh-sách chất-chứa thật nhiều, mà chẳng có lợi-ích gì cả.  Vậy nên học phải đi đôi với hành.  Chúng ta phải cố gắng thực-hành cho được những điều mình thấy là hay là phải.  Phật đã làm gì, chúng ta phải tập làm lại; Phật đã có những đức tánh Từ-bi, Hỷ-xả, Hoan-hỷ, Tinh-tấn, Thanh-tịnh… chúng ta cũng cố-gắng thực-hiện cho được những đức-tánh ấy. 

    Có như thế, mới khỏi hổ với hai tiếng Phật-tử và mới gọi là đền-đáp, trong muôn một, ân-đức sâu-dày của đức Từ-phụ Thích-Ca.


    Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
    Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
    4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712