Nhập Email của Bạn để nhận Tin Sinh Hoạt từ Tu Viện Kim Cang

TÌM KIẾM  

Tìm Theo


LỊCH SINH HOẠT SẮP TỚI

  • Khóa Lễ Chủ Nhật Hàng Tuần vào lúc 12pm.
  • Bát Quan Trai:
            - Vào ngày Saturday, 7 Tháng 8 Năm 2021 Âm Lịch: Lúc: 10:00am

    Các Ngày Lễ, Sám Hối và Bát Quan Trai khác:
    Sám Hối: Vào ngày:   Saturday 8/7/2021 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm
    Sám Hối: Vào ngày:   Saturday 8/21/2021 Âm Lịch: Lúc: 7:30 pm
    ĐẠI LỄ VU LAN: Vào ngày:   Sunday 8/22/2021 Âm Lịch: Lúc: 10:30am - 5:00pm


     BÀI HỌC CHO TUẦN NÀY
    (Phật Học Phổ Thông Khóa thứ I )

    LƯỢC SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (TỪ GIÁNG SINH ĐẾN THÀNH ĐẠO)


    LƯỢC - SỬ ÐỨC PHẬT THÍCH - CA MÂU - NI

    (TỪ GIÁNG-SINH ÐẾN THÀNH ÐẠO)

    A.  Mở Ðề: 

    Ðời đức Phật Thích-Ca là một tấm gương sáng. 

    Bất luận một Tôn-giáo nào, vị Giáo-chủ bao giờ cũng là một tấm gương sáng cho tín -đồ soi chung để tiến bước.  Nhưng trong các vị Giáo-chủ của các Tôn-giáo hiện có trên thế-giới này, không có một vị nào có đầy-đủ ý-nghĩa cao đẹp, một đời sống sâu-xa bằng đức Phật Thích-Ca Mâu-ni.  Mỗi hành-động, mỗi cử-chỉ, mỗi lời nói cho đến mỗi sự im-lặng của Ngài đều là những bài học quý-báu cho chúng ta.  Nếu chúng ta học giáo-lý của Ngài mà không hiểu rõ đời sống của Ngài, thì sự học hỏi của chúng ta còn phiến-diện, thiếu-sót.  Ðời Ngài chính là những biểu-diện, thiếu-sót.  Ðời Ngài chính là những biểu-hiện giáo-lý của Ngài.  Ngài nói và Ngài thực-hành ngay những lời Ngài đã nói.  Ðời Ngài là một bằng-chứng hiển-nhiên để người đời nhận thấy rằng giáo-lý của Ngài có thể thực-hiện được, chứ không phải là những lời nói suông, những không-tưởng, những lâu-đài xây-dựng trên mây, trên khói. 

    Vậy cho nên khi chúng ta học hỏi đời Ngài, chúng ta không nên có cái quan-niệm học cho biết để thỏa-mãn tánh hiếu kỳ, mà chúng ta còn phải tìm hiểu ý-nghĩa thâm-thúy của đời sống ấy để đem áp-dụng cho đời sống của chúng ta. 

    Làm được như thế mới khỏi phụ ý-nguyện lớn-lao của đức Phật khi giáng-sanh xuống cõi Ta-bà này và đã cam chịu bao nỗi đau khổ, gian-lao trong kiếp sống như mỗi người chúng ta. 

    B.  Chánh Ðề:

    I.       ÐỊNH NGHĨA HAI CHỮ “GIÁNG – SANH” 

    Thường trong danh-từ nhà Phật, khi nói đến sự hiện-diện của đức Phật Thích-Ca trong cõi đời này, người ta thường dùng chữ “đản-sanh” (nghĩa là một sự ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời) hay “thị hiện” (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt trần của chúng ta thấy được); hay “giáng-sanh” (nghĩa là từ một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sanh ra). 

    Ba chữ ấy đều có ba ý-nghĩa khác nhau : Chữ “đản-sanh” dùng để ca-tụng một bậc tôn-quí ra đời; chữ “thị-hiện” hàm cái ý Phật bao giờ cũng có cả, nhưng vì mắt người không thấy được, phải hiện rõ-ràng ra mới thấy; chữ “giáng-sanh” hàm cái ý đức Phật ở một cảnh-giới cao hơn, tốt-đẹp hơn mà hạ xuống cảnh-giới phàm trần này.  Ba chữ ấy mặc dù khác nhau, nhưng đều có thể dùng để chỉ sự ra đời của đức Phật.  Trái lại, khi một người phàm ra đời thì gọi là “đầu-thai”.  Ðầu-thai có nghĩa là bị nghiệp báo hoặc thiện hay ác bắt buộc phải luân-hồi để chịu quả-báo lành hay dữ.  Còn giáng-sanh hay thị-hiện thì không hàm cái nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc, mà do nơi lòng từ-bi, muốn lợi-ích cho chúng-sanh, nên tự-nguyện ứng thân xuất-hiện ra đời trong một thời-gian để cứu độ chúng-sanh, xong-xuôi thì thâu thần tịch diệt, tự-tại vô-ngại ra ngoài sống chết.

    II.  HOÀN-CẢNH VÀ DÒNG-DÕI ÐỨC PHẬT THÍCH-CA           

                Ðức Phật giáng-sanh ở xứ Trung Ấn-độ, bây giờ là nước Népal, một nước ở ven sườn dãy núi Hy-mã-lạp-sơn, là một dãy núi cao nhất thế-giới.  Phong-cảnh ở đấy rất đẹp; đến mùa xuân là cả nước đơm bông nảy là như một vườn hoa vĩ-đại.  Dân cư ở xứ đó rất là thuần-lương.  Vị vua trị-vì là Tịnh-Phạn, một vị vua thuộc dòng học Thích-Ca, là một dòng họ lớn đã mấy mươi đời nối nghiệp trị-vì đất nước này.  Bà hoàng-hậu Ma-Da, cũng là một người thuộc dòng vua chúa đã lâu đời.  Cả hai ông bà vua Tịnh-Phạn đều là người đã nhiều kiếp tu-hành có đức-hạnh lớn, xứng-đáng làm cha mẹ muôn dân. 

                Một hôm, trong thành Ca-tỳ-la-vệ, là kinh-đô của vua Tịnh-Phạn, có lễ vía Tinh-tú, vua tôi cùng nhau mở hội ăn chơi.  Hoàng-hậu Ma-Da, sau dâng hương hoa cúng-kiến trong cung điện rồi, ra ngọ-môn bố-thí thức ăn, đồ mặc cho dân bần-cùng.  Khi trở về cung an giấc, Bà nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà từ trên hư-không xuống, lấy ngà khai hông bên hữu của Bà mà chung vào.  Bà đem điềm chiêm-bao ấy thuật lại cho vua Tịnh-Phạn nghe.  Vua ra lịnh mời các thầy đoán mộng.  Các nhà tiên-tri đoán rằng : “Hoàng-hậu sẽ sanh một vị quý-tử tài-đức song toàn”.  Vua Tịnh-Phạn rất mừng rỡ, vì ngôi báu từ đây sẽ có người truyền nối. 

                Ðến sáng ngày Rằm tháng Tư Âm-lịch (trước Tây-lịch 624 năm), tại vườn Lâm-tỳ-ni, cách thành Ca-tỳ-la-vệ 15 cây số, hoàng hậu Ma-Da đang ngoạn cảnh, trông thấy cành hoa Vô-ưu mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải vói hái, thì Thái-tử cũng vừa xuất-hiện ngay đấy. 

                Ngày đản-sanh Thái-tử, trong thành Ca-tỳ-la-vệ, cảnh vật đều vui-vẻ lạ thường, khí-hậu mát-mẻ, cây cỏ đều thơm hoa trổ trái; sông, ngòi, mương và giếng nước đều trong đầy; trên hư-không chim-chóc ca-hót và hào-quang chiếu sáng cả mười-phương. 

                Vua Tịnh-Phạn vui-mừng khôn xiết, mời các vị tiên-tri đến xem tướng Thái-tử.  Trong số đó, có vị đạo-sĩ A-Tư-Ðà tu ở núi Hy-mã-lạp-sơn, tiên đoán rằng: Thái-tử vì có 32 tướng tốt xuất-hiện, nên sẽ trở thành một vị Thánh.  Nhưng vua Tịnh-Phạn lại chỉ muốn con mình làm một vị vua để nối dõi tông-đường mà thôi.  Vì thế, Tịnh-phạn-vương muốn đổi số mệnh của con mình, nên đặt tên cho Thái-tử là Tất-đạt-Ða (Siddartha) theo tiếng Phạn, nghĩa là: “Kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ”.  Chức vị mà Tịnh-phạn-vương muốn ám chỉ đây tức là ngôi Vua; Ngài không ngờ rằng chính thật chức vị của con Ngài là chức vị Phật. 

                Hoàng-hậu Ma-Da sau khi sanh Thái-tử được bảy ngày, vui thú quá vì thấy mình đã làm tròn nhiệm-vụ cao quý và đã rửa sạch nghiệp báo, nên Bà trút được xác phàm và sanh về cõi trời Ðao-lợi.  Vua Tịnh-Phạn giao Thái-tử cho em gái Hoàng-hậu là Ma-ha Ba-xà ba-đề nuôi dưỡng.

    III.  TÀI-NĂNG VÀ ÐỨC-HẠNH CỦA THÁI-TỬ           

                Thái-tử mỗi năm mỗi lớn, thì diện-mạo càng thêm khôi-ngô, tài-năng càng phát-lộ gấp bội.  Ngài có một sức khỏe hơn người, một trí thông-minh xuất chúng.  Từ nghề văn cho đến nghiệp võ.  Thái-tử học với ông thầy nào thì trong ít hôm sau, vị giáo-sư ấy phải xin cáo thối, vì không còn đủ sức để dạy nữa.  Cho đến ông thầy danh-tiếng đệ-nhất thời bấy giờ là “Sằn-đề-đề-Bà” cũng chịu khuất-phục Ngài luôn. 

                Nhưng, mặc dù tài sức hơn người, thông-minh xuất-chúng, lại ở trong địa-vị cao sang quyền quý tột bậc, Thái-tử không bao giờ tỏ vẻ ngạo mạn, khinh người.  Ngài có một thái-độ rất nhã-nhặn, ôn-hòa, vô-tư, bình-đẳng.  Lòng thương người, thương vật của Ngài không ai sánh kịp, hễ có dịp giúp đỡ, thì dù khó-khăn bao nhiêu Ngài cũng không từ nan.  Bởi thế, Ngài được trên Vua cha yêu-quí, dưới thần dân kính-trọng, nể-vì.

    IV.  NHỮNG RÀNG-BUỘC CỦA TỊNH-PHẠN-VƯƠNG ÐỂ NGĂN CHÍ XUẤT-GIA CỦA THÁI-TỬ 

                Càng thương yêu, quý trọng con, Tịnh-phạn-vương lại càng lo-sợ con mình sẽ không ở lại với mình, mà sẽ xuất-gia tìm Ðạo để thành một vị Thánh, như lời tiên-đoán của đạo-sĩ A-tư-đà.  Nhất là khi nhận thấy càng lớn, Thái-tử lại càng có vẻ suy-nghĩ xa-xăm, và nét mặt Thái-tử lại không được vui-tươi như thời thơ-ấu, Vua Tịnh-phạn lại càng lo-sợ rằng lời tiên-tri xưa sẽ thực hiện.  Bởi thế, Vua cùng triều-thần ngấm-ngầm sắp-đặt mọi kế-hoạch để ràng buộc Thái-tử ở lại ngôi báu, Ngài truyền xây dựng ba tòa lâu đài nguy-nga tráng-lệ để Thái-tử thay-đổi nơi ăn chốn ở cho hợp thời-tiết quanh năm và chọn từng trăm cung phi, mỹ nữ có tài đàn hay, múa giỏi để giải-khuây cho Thái-tử.  Nhưng chừng ấy cũng chưa đủ, Ngài còn làm lễ thành-hôn cho Thái-tử với một Công-chúa con vua Thiện-Giác là nàng Da-du Ðà-la, một Công-chúa tuyệt đẹp và đức hạnh vô song. 

                Thái-tử bị bắt-buộc phải lập gia-thất và có một con là La-hầu-la. 

                Nhưng, mặc dù sống một cuộc đời quá đầy-đủ : nào chức-tước danh-vọng, nào lầu-đài cung-điện, nào đàn ca múa hát, nào vợ đẹp con ngoan, Thái-tử vẫn thấy lòng mình nặng-trĩu bao nỗi băn khoăn, thắc-mắc.  Ngài cho cảnh đời Ngài đang sống đấy không phải là hạnh-phúc chân-thật, mà là cảnh giả dối, mê-muội, chỉ làm cho kiếp sống thêm nặng-nề đau khổ.  Ngài thấy cần phải tìm một lối thoát, một cuộc sống chân-thật, có ý-nghĩa và cao-đẹp hơn.

    V.  NHẬN RÕ BỐN TƯỚNG KHỔ Ở ÐỜI 

                Một hôm, nhân ngày lễ hạ-điền, Thái-tử theo vui cha ra đồng xem dân-chúng cày cấy.  Cảnh xuân, mới nhìn qua, thật là đẹp mắt, nào hoa lá tốt-tươi, muôn chim đua hót; nào bầu trời quang-đãng, gió xuân phơi phới cảnh tượng có vẻ thái-bình, an-lạc lắm.  Nhưng tâm hồn Thái-tử không phải là một tâm hồn hời hợt, xét đoán một cách nông nỗi.  Trái lại, Ngài nhìn sâu vào trong cảnh vật và đau đớn nhận thấy rằng cõi đời không đẹp đẽ an-vui như khi mới nhìn qua.  Ngài thấy người nông phu và trâu, bò làm việc một cách cực nhọc dưới ánh nắng thiêu đốt, để đổi lấy bát cơm, nắm cỏ.  Chim chóc tranh nhau ăn tươi nuốt sống côn trùng đang giãy giụa trên những luống đất mới cày.  Cũng trong lúc ấy, trong bụi rậm người thợ săn đang nhắm bắn những con chim kia, và trong khu rừng gần đấy, bọn hổ báo đang rình bắt người thợ săn.  Thật là một cảnh tương-tàn tương sát, không phút giây nào ngừng!  Chỉ vì miếng ăn để sống mà người và vật dùng đủ mọi phương để giết hại lẫn nhau không biết gớm.  Ngài nhận thấy rõ ràng sự sanh sống là khổ.           

                Một hôm khác, Ngài xin phép Vua cha đi dạo ngoài bốn cửa thành để được tiếp xúc với thần dân.  Ra đến cửa Ðông, Ngài gặp một ông già tóc bạc, răng rụng, mắt lờ, tai điếc, lưng còng, nương gậy lần từng bước, ngập ngừng như sắp ngã. 

                Ðến cửa Nam, Thái-tử thấy một người đau nằm trên cỏ, đang khóc than rên siết, đau đón vô cùng. 

                Ðến cửa Tây, Ngài trông thấy một cái thây chết nằm giữa đường, ruồi lằng bu bám, và sình lên, trông rất ghê tởm. 

                Ba cảnh khổ già, đau, chết, cọng thêm vào cái ấn tượng tương tàn tương sát trong cuộc sống mà Thái-tử đã nhận thấy khi đi xem lễ cày ruộng, làm cho Ngài đau buồn, thương xót chúng-sanh vô cùng. 

                Một hôm khác nữa, Ngài ra cửa Bắc, gặp một vị tu-sĩ tướng mạo trang-nghiêm, điềm tĩnh và thản-nhiên như người vô sự đi ngang qua đường.  Thái-tử thấy trong lòng nẩy sanh một sự cảm mến đối với vị tu-sĩ.  Ngài vội vã đến chào mừng và hỏi về ích-lợi của sự tu hành.  Vị Sa-môn đáp rằng: “Tôi tu hành là quyết dứt bỏ mọi sự ràng buộc giữa cõi đời, để cầu cho mình khỏi khổ và được thành Chánh-giác để phổ-độ chúng-sanh đều được giải-thoát như mình”.

                Lời giải đáp ấy đã đáp trúng với hoài bảo mà Thái-tử đang ấp-ủ bấy lâu, nên Ngài không xiết vui mừng.  Ngài liền trở về cung xin vua cha cho mình xuất-gia.  Vua Tịnh-Phạn không nhận lời.  Thái-tử yêu cầu vua cha bốn điều, nếu vua giải-quyết thì Ngài sẽ hoãn cuộc đi tu, để ở lại lo chăn dân, trị nước.  Bốn điều ấy là: 

    1.      Làm sao cho con trẻ mãi không già.

    2.      Làm sao cho mạnh mãi không đau.

    3.      Làm sao cho con sống hoài không chết.

    4.      Làm sao cho mọi người hết khổ. 

    Bốn điều này làm cho vua cha bối-rối, không thể giải-quyết được một điều nào cả.

    VI.  SỰ XUẤT-GIA TÌM ÐẠO 

    Tịnh-Phạn-vương, khi biết được ý-định xuất-gia của Thái-tử, lại càng lo-sợ, tìm hết cách để ngăn cản, ràng-buộc Ngài trong “Cung Vui”.  Nhưng một khi Thái-tử đã quyết chí, thì không có sức mạnh gì ngăn-trở được ý-định của Ngài. 

    Một đêm khuya, thừa dịp quân lính canh gác và cung-phi mỹ-nữ say ngủ sau một cuộc yến tiệc linh-đình, Thái-tử lén trổi dậy, nhìn vợ con từ-biệt một lần cuối, rồi đánh thức tên giữ ngựa Xa-nặc dậy, thắng yên cương, và hai thầy trò cùng nhau trốn ra khỏi thành.  Lúc bấy giờ nhằm đêm mồng tám tháng hai, và Ngài đã được 29 tuổi. 

    Sau khi dứt bỏ cuộc đời vương-giả, Thái-tử đi vào rừng sâu tìm Ðạo. 

    Ban đầu, Ngài đến ở tu với các vị tu khổ-hạnh.  Những hạng người này sống một cách kham-khổ, nhịn ăn nhịn uống, dãi nắng, dầm sương, hành thân hoại-thể một cách rất ghê-rợn.  Thấy cách tu-hành như thế không có hiệu-quả, Ngài khuyên các vị nên bỏ phương-pháp tu-hành ấy, nhưng họ không nghe.  Ngài lấy làm thương cho họ, bèn tìm nơi khác mà tu-hành.  Ngài đi hết chỗ này đến chỗ khác, ở đâu nghe có một vị tu-hành đắc-đạo thì Ngài tìm đến học; nhưng đến đâu Ngài thấy Ðạo của họ cũng hẹp-hòi, thấp-thỏi, không thể giải-thoát cho con người hết khổ được.  Từ đấy, Ngài tìm chốn tu-tập một mình, đêm ngày nghiền-ngẫm đến Ðạo giải-thoát, quên ăn bỏ ngủ, thân hình mỗi ngày mỗi tiều-tụy.  Một hôm Ngài kiệt-sức, nằm ngã lịm trên cỏ và được một người chăn cừu đến đổ sữa cho Ngài tĩnh lại.  Từ đó, Ngài nhận thấy nếu muốn tìm Ðạo có kết-quả, cần phải bồi-dưỡng thân-thể cho được mạnh khỏe, chứ không thể bỏ quên nó đi được.

    Khi thấy mình đã đầy-đủ sức lực để chiến-đấu trong một trận cuối-cùng với bóng tối si-mê và dục-vọng, đem lại ánh sáng Giác-ngộ, Ngài đến ngồi nhập-định dưới gốc cây Bồ-đề và thề rằng: “Nếu ta không thành Ðạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”.

    VII.  THÀNH ÐẠO 

                Ðức Thích-Ca đã ngồi nhập-định suốt 49 ngày đêm dưới gốc Bồ-đề.  Trong 49 ngày ấy Ngài đã chiến-đấu với bọn giặc phiền-não ở nội tâm như tham, sân, si, mạn, nghi… và chiến-đấu với giặc Thiên-ma do Ma-vương Ba-tuần chỉ-huy. 

                Sau khi thắng được cả giặc ở nội tâm lẫn ngoại cảnh, tâm-trí được khai-thông, Ngài hốt-nhiên đại-ngộ. 

                Trong đêm thứ 49, vào canh hai, Ngài chứng được “Túc-mệnh-minh”, thấy rõ được tất cả khoảng đời quá-khứ của mình trong tam giới.  Ðến nữa đêm, Ngài chứng được “Thiên-nhãn-minh”, thấy được tất cả bản-thể của vũ-trụ và nguyên-nhân cấu tạo của nó.  Ðến canh tư, Ngài chứng được “Lậu-tận-minh”, rõ biết nguồn gốc của đau khổ, và phương-pháp dứt trừ đau-khổ để được giải-thoát khỏi sanh-tử luân-hồi. 

                Từ ngày ấy, Ngài được Ðạo vô-thượng thành bậc “Chánh-đẳng chánh-giác”, hiệu là Phật Thích-Ca Mâu-Ni.  Ngày thành Ðạo của Ngài, tính theo Âm-lịch là ngày mồng 8 tháng 12, vào lúc sao mai mọc.  Lúc ấy Ngài được 30 tuổi.

    VIII.  Ý-NGHĨA CAO CẢ TRONG SỰ XUẤT-GIA TÌM ÐẠO CỦA ÐỨC PHẬT 

                Những tướng sĩ chiến-thắng quân địch ở ngoài chiến-trường, thường được ca tụng là anh-hùng.  Càng chiến-thắng được nhiều quân địch lại càng được hoan-hô là anh hùng cái thế.  Nhưng những kẻ anh-hùng cái-thế ấy, như Nã-Phá-Luân, Thành-cát Tư-hãn, Xê-đa (César), đã có ai chiến-thắng được những dục-vọng của chính mình?  Cho nên thắng người đã khó mà thắng mình lại càng khó hơn.  Ðức Phật đã thắng cả ngoại cảnh lẫn nội tâm, đã thắng được cả giặc Ma-vương lẫn giặc Dục-vọng.  Ðức Phật thật xứng đáng với danh hiệu Ðại-Hùng, Ðại-Lực. 

                Ngài lại không phải vì quyền lợi riêng mình mà chiến đấu.  Ngài chiến-đấu vì tình thương, mà tình thương ở đây cũng phải chỉ nằm trong phạm-vi hẹp-hòi của gia-đình: thương cha mẹ, vợ con, bè bạn.  Tình thương ở đây là tình thương đối với tất cả chúng-sanh, tất cả cõi đời.  Tình thương ấy nó rộng sâu như trời bể, thiết-tha như tình mẹ thương con.  Ðức Phật thật xứng-đáng với danh-hiệu Ðại-từ, Ðại-bi.

                Lại vì tình thương ấy Ngài đã hoan-hỷ lìa bỏ ngôi-báu, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, đàn hay múa đẹp, mùi ngon vị lạ, để sống một cuộc đời kham-khổ, đạm bạc, thiếu-thốn, giữa rừng thiêng nước độc.  Và một khi đã rời bỏ những thứ mà người đời cho là quý-báu nói trên, Ngài không một phút giây nào hối-tiếc, muốn quay về để hưởng thụ lại.  Bằng-cớ là ma-vương đã sai con gái mình giả làm nàng Da-du đến kêu gọi van xin Ngài trở về cung, mà Ngài cũng không chút động tâm thối-chuyển.  Ngài thực xứng-đáng với danh-hiệu là Ðại-Hỷ, Ðại-Xả. 

                Cho nên ngày nay, mỗi khi xưng tán danh-hiệu Ngài, chúng ta không thể không suy-gẫm cái ý-nghĩa sâu-sắc và đúng-đắn mà người đời từ xưa đến nay đã tôn-xưng Ngài là Ðại-hùng, Ðại-lực, Ðại-từ, Ðại-bi, Ðại-hỷ, Ðại-xả. 

    C.  Kết luận: 

    CHÚNG TA NÊN PHÁT TÂM RỘNG LỚN VÀ MẠNH-MẼ 

                Chúng ta đã được biết qua đời sống của Ðức Phật từ khi sơ-sanh cho đến thành đạo.  Bài học của đời Ngài dạy cho chúng ta nhiều ý-nghĩa, nhiều phương-diện quý-báu. 

                Nhưng điều quý-báu nhất, đối với những kẻ sơ-cơ, như chúng ta là phải phát tâm Bồ-đề rộng lớn, nguyện vì đời, vì đồng-bào đồng loại mà tu-hành, chứ không phải chỉ vì lợi-ích riêng cho mỗi cá-nhân chúng ta. 

                Chúng ta lại phải phát tâm dõng-mãnh tích-cực trong sự tu-hành; một khi đã vào đường đạo, thì dù gặp nguy-nan, hiểm-trở khó-khăn cũng nhất quyết không thối-lui quay gót.  Chúng ta phải tập cho được cái đức kiên-chí như đức Phật khi ngồi thiền định dưới gốc Bồ-đề. 

                Ðược như vậy mới xứng đáng là “chân chánh Phật-tử”.


    Trang Chủ | Lịch Sinh Hoạt | Hình Ảnh | Âm Nhạc | Trắc Nghiệm |  Xem Phim | Liên Kết |  Liên Hệ
    Liên hệ kimcangtuvien@yahoo.com
    4771 Browns Mill Road Lithonia Georgia 30038-2604 Tel:(770) 322-0712